ido1 copy

Kỹ thuật chăm sóc, phòng trị bệnh cho cây nhãn thời kỳ chuẩn bị ra hoa, đậu quả non

5897127067_9fe5576674Kinh tế nông nghiệp từ việc thâm canh cây nhãn đã mang lại sự giàu có, sung túc cho nhiều hộ nông dân. Công nghệ sinh học phát triển ngày càng có nhiều giống nhẵn mẫu mã mới lạ, năng suất phẩm chất cao, cùng với kỹ thuật canh tác ngày một cãi tiến. Việc cập nhật kiến thức và áp dụng là vấn đề cần thiết cho các hộ gia đình đã và đang có ý định canh tác cây nhãn, Hoặc những bạn có sẵn gốc nhãn trong khu vườn của mình, sau đây là một số kỹ thuật chăm sóc và xử lý sâu bệnh hại nhãn trong thời kỳ mang tính quyết định của mùa vụ- giai đoạn nhãn chuẩn bị ra hoa, đậu quả non:

  1. 1.      Bón phân bổ sung

Nữa tháng trước khi cây bắt đầu ra hoa tiến hành bón phân thúc đẩy quá trình sinh trưởng, để câ₂xáo, bón phân.

  1. Phòng trừ sâu bệnh và các tác nhân làm tổn hại năng suất vụ nhãn.

2.1 Mưa axit hại hoa, quả non.

Có năm trước mùa vụ ít mưa, nên các khí độc trông không khí như co, P₂O5, SO₂… Có khả năng gây ra mưa mang axit và các tạp chất bẩn gây hại trong lúc nhãnđang trổ hoa, kết quả non dẫn tới hiện tượng rụng hoa, rụng quả.

Cách phát hiện mưa axit: khi xuất hiện cơn mưa trong lúc nhãn đang trổ bông dùng chậu hứng nước mưa, dùng quỳ tím thử xem, nếu quỳ tím hóa hồng thì mưa mang axit .

Xử lý: rửa hoa , lá, quả. Dùng cù neo ruung nhẹ cành cho rụng nước đọng.

Chú ý không được phun trực tiếp vòi nước lên hoa, quả non.

2.2 Bệnh hại hoa quả non

Độ ẩm cao dễ xuất hiện các bệnh như ở chân hoa hoặc cành có các chấm đen, nâu, rồi lan dần ra làm cành hoa héo rũ. Sử dụng Ridomil để phun, nồng độ 0.2 %, phun 2 lần để phòng ngừa. Lần đầu khi hoa mới nhú, lần hai khi hoa đã nở từ 7 -10 ngày.

Nhiệt độ cao có thể phát sinh bệnh nấm trắng hại hoa. Chùm hoa xuất hiện các vết xám trắng nhạt, trên đó có một lớp phấn trắng, chùm hoa hỏng có màu xám tro, mốc trắng. Sử dụng Annvil 0.2% để phun khi bệnh chớm phát, lần 2 cách lần 1 : 5 ngày.

2.3 sâu hại quả non

Rệp hại quả: thường xuất hiên khi cành hoa vươn dài và quả non đã ổn định, mật độ cáo cỏ thể lên đến vài trăm con trên một cành, kích thước nhỏ 0.3 đến 0.6 mm nên rất khó phát hiện khi rầy mới khởi phát. Rệp hại hoa nhẵn từ 5-7 ngày, hoa quả non sẽ rụng hàng loạt. Sử dụng thuốc Sherpa 0.1- 0.2%, Trebon 0.1- 0.2% phun hai lần, lần đâu khi phát hiện,lần hai cách lần đầu từ 5-7 ngày.

Bọ xít nâu: gặp mùa lạnh bọ xít phát triển mạnh hại hoa quả, sử dụng thuốc như rệp hại hoa để phòng trị.

Sâu đo ăn lá: nếu nhiệt độ ấm sẽ làm sâu nở sởm, để tránh sâu hại quả non chỉ nên dùng Shrpa và Trebon theo khuyến cáo.

Lưu ý: không được dùng thuốc Bi-58, Monitor, bassa, Wofatox, Ofator .. lên hoa quả non.

Cây nhãn- kỹ thuật trồng và chăm sóc

Trần Thế Tục.

bac si cay trong

bác sĩ cây trồng và hơn thế

Bacsicaytrong.com là một trang chuyên để của website chính saigonhoa.vn

Công ty cổ phần Sài Gòn Hoa chuyên cung cấp các dịch vụ cảnh quan, sản phẩm hoa cảnh, vật liệu trang trí sự kiện…

- Tư vấn thiết kế các tiểu cảnh khô, tiểu cảnh nước, biệt thự  sân vườn miễn phí.

- Thi công, thực hiện công trình.

- Chăm sóc bảo dưỡng công trình.

Hình ảnh một số công trình thực hiện:

Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp,có kiến thức sâu rộng về cây trồng,tư vấn nhiệt tình.
Công ty Cp Sài Gòn Hoa Tự tin mang lại cho bạn cảm giác thoải mái,thư giãn ngay trong văn phòng, nơi làm việc của bạn.
Công Ty Sài Gòn Hoa  rất hân hạnh được phục vụ Quí khách!
Thông tin liên hệ:
Công ty Cp Sài Gòn Hoa

74/2/1D Đường 36, P.Linh Đông, Q.Thủ Đức, TP.HCM
www.saigonhoa.vn
Tel: 08 3720 3389
Fax: 08 3720 6720

xoai

Cách phòng trị bệnh thường gặp trên cây xoài

 

xoai     Xoài có tên khoa học Mangifera indica, thuộc họ Anacardiaceae. Cây có thể cao 40m, nhưng thông thường khoảng 10-15m, có tán lớn và có thể sống đến 100 năm. Ở vùng đất cao hay đồi núi rễ có thể mọc sâu đến 9m. Ở vùng đất thấp rễ mọc đến mực thuỷ cấp.Xoài trồng từ hột, sau 6-8 năm sẽ cho trái 

Xoài là loài cây ăn quả xứ nhiệt đới phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng ở VIệt Nam, là loài cây trồng kinh tế.Ngoài ra xoài còn là loài cây che bóng, trang trí không gian vườn có giá trị thẫm mỹ cảnh quan rất cao.

1. Sâu đục trái

Đây là đối tượng gây hại rất nghiêm trọng trên xoài. Thành trùng là một loại bướm màu trắng ngà, sải cánh dài 2-3cm, hoạt động về đêm. Chúng đẻ trứng dưới lớp vỏ ở phần đít trái xoài, trứng nở ra sâu non có khoan hồng đậm, đục thẳng vào hột để ăn hột xoài. Sau khi sâu lớn sẽ buông mình xuống và chui vào đất để hoá nhộng, sau đó vũ hoá thành bướm gây hai tiếp. Tỉ lệ gây hại có khi đến 30-35%.

* Phòng trị:

+ Phun các loại thuốc thuộc nhóm cúc tổng hợp, định kỳ 7 ngày/lần.

+ Loại bỏ các trái có dấu đục, không để rơi vãi trên mặt đất.

+ Dùng loại bao đặc biệt để bao trái lúc con nhỏ.

2. Ruồi đục trái

Gây hại trên xoài, táo, nhãn… Ấu trùng không những gây hại cho trái mà còn hạn chế khả năng xuất khẩu xoài sang các nước khác.Ruồi có kích thước nhỏ hơn ruồi nhà, màu nâu vàng, ngực có 2 sọc vàng, cánh không màu.Ruồi cái đục võ trái (lúc trái già) và đẻ trứng dưới lớp vỏ. Trứng nở thành giòi nhỏ, nằm bên trong ăn thịt trái. Trái bị giòi thu7ng2 do bị bội nhiễm nấm nen bi lên men, thối rữa và rụng đi.

* Phòng trị:

+ Điều khiển xoài ra hoa sớm, tránh lúc mưa đầu mùa là thời điểm mật độ ruồi rất cao.

+ Bao trái, đây là biện pháp rất hiệu quả.

+ Tiêu huỷ trái rụng để diệt giòi.

+ Dùng bẫy bằng chất dẫn dụ (cây é tía hay chất trích ly từ cây é tía).

+ Phun thuốc theo định kỳ.

3.Rầy xoài

Còn gọi là rầy nhảy, hình dáng tương tự ve sầu nhưng nhỏ hơn. Rầy dài 3-5 mm, hơi nâu chích hút ở đọt, mặt dưới lá và phát hoa. Rầy còn tiết ra mật gây bệnh bồ hóng lá, làm cây phát triển kém. Hiện nay rầy là đối tượng gây hại số 1. Khả năng kháng các loại thuốc cũ như Bassa, Mipcin, Trebon rất cao.

*Phòng trị:

Sử dụng thuốc Admire, Confidor, Applaud, Butyl.

4. Con cắt lá

Là loại côn trùng cánh cứng rất nhỏ bằng cọng chân nhang, dài 22 mm, có một vòi dài là 2 mảnh ghép lại dùng để cắt lá non. Chúng xuất hiện vào lúc sáng sớm hay chiều mát. Chúng cắt cuống lá non vừa mới nhú hoặc lá chưa chuyển sang màu xanh, làm cho chồi non không có lá, gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cây.

*Phòng trị:

Trong giai đoạn cây ra lá non, cần theo dỏi thường xuyên (2 ngày /lần). Nếu thấy có dấu hiệu gây hại lập tức phun thuốc trừ sâu nhóm cúc tổng hợp.

5. Sùng đục thân

Thành trùng là loài bọ cánh cứng có râu dài. Chúng thường đẻ trứng vào vết thương của cây, quanh gốc cây hoặc những nơi kính đáo nơi có lớp vỏ bong ra (cây già). Ấu trùng đục phần dưới lớp vỏ để ăn, sau đó hoá nhộng trong bao kén trắng nằm bên trong lớp vỏ cây. Ấu trùng gây ra vết thương tạo điều kiện để cho nấm xâm nhập và phát triển làm hư lớp vỏ quanh thân, nếu nặng cây có thể chết.

*Phòng trị:

Nên thường xuyên kiểm tra quanh gốc xoài, nhất là ở những cây lâu năm có lớp vỏ bong ra. Nếu thấy có lớp mạt nhỏ ùn ra, dùng dao vạt vỏ, khi phát hiện dùng dây kẽm móc ra, trám đất sét lại.

6. Sâu ăn bông

Thành trùng là loài buớm đêm nhỏ, có màu nâu, sải cánh khoảng 18 mm. Sâu màu đỏ nâu, đầu đen. Ban ngày sâu nằm trong bao tơ mỏng ở cuống phát hoa, ban đêm chui ra ăn bông. Nên phun thuốc định kỳ thuộc nhóm cúc tổng hợp.

7. Rệp sáp

Chích hút nhựa ở nhánh non và cuống trái. Đây là loại rệp hay chích hút trên cam quít.

Phòng trị :bằng thuốc Supracide 40 ND.

BỆNH HẠI XOÀI

1.Bệnh thán thư (Nấm Colletotrichum gloeosporioides)

Là loại bệnh nguy hiểm nhất, thường gây hại trong mùa mưa hoặc những lúc đêm có sương. Nấm bệnh tấn công cành non, lá non, hoa và trái.

Trên hoa, bệnh làm rụng hoa và hư phát hoa.

Ở lá, đốm bệnh màu xám nâu, tròn hay góc cạnh, tạo đốm cháy lá và rách lá, cuối cùng lá bị rụng.

Trên trái, bệnh lúc đầu chỉ tạo các chấm nâu nhỏ, sau đó phát triển thành các đóm thối đen lõm xuống vỏ trái làm trái bị chín háp hoặc hư hỏng khi tồn trữ (nếu nhiễm muộn). Bào tử nấm có thể mọc mầm sau 6 giờ trong giọt nước nên gây hai rất nhanh.

2. Bệnh thối trái khô đọt (Nấm Diplodia natalensis) 

Bệnh gây hại nặng trong điều kiện nóng ẩm, nhất là vào mùa mưa. Trên nhánh mang đọt xuất hiện các đốm sậm màu, lan dần trên các cành non, cuống lá làm lá biến màu nâu, bìa lá cuốn lên. Cành bị khô nhăn và có thể chảy mủ.Chẻ dọc cành bệnh, bên trong các mạch dẫn nhựa bị nhiễm nâu tạo thành các sọc màu nâu.Bệnh thường tấn công trái trong giai đoạn tồn trữ hay vân chuyển, làm thối phần thịt trái nơi gần cuống trái hoặc những nơi có phần vỏ trái bị trầy trụa. Khi hái trái không chừa cuống, bệnh rất dễ xâm nhập và lây lan chỉ sau 2-3 ngày, nhất là khi gặp điều kiện ẩm.

*Phòng trị:

Tránh làm dập trái hoặc rụng cuống khi hái trái. Phun Benlate (0,01%), Copper-B (0,1%) với số lượng 10 lít/cây khoảng 2 tuần trước khi thu hoạch. Trái sau khi hái phải xử lý bằng nước ấm (55OC) có chứa Benlate 0,06-0,1%, cách này có thể phòng cã bệnh thối trái và bệnh thán thư. Cũng có thể nhúng trái vào dung dịch gốc đồng hay dung dịch Borax (0,6%).Phong trừ bệnh trên cây con ghép cần chọn mắt ghép trên cây khoẻ mạnh, sạch bệnh và nên vệ sinh kỹ dụng cụ ghép.

3. Bệnh cháy lá (Nấm Macrophoma mangiferae).

Bệnh phát triển nặng trong mùa mưa, gây hại cả lá, nhánh và trái. Đốm bệnh lúc đầu nhỏ như đầu kim có màu vàng, sau lớn dần có màu nâu nhạt, sau chuyển thành màu nâu đậm, có viền màu tím sậm. Phần giữa vết bệnh có màu xám tro có các vết đen là những ổ nấm. Vết bệnh ở lá có hình bầu dục hay biến dạng, khi lan dần vào cuống lá làm chóp lá bí cháy khô.

Trên trái, đóm bệnh tròn úng nước, sau đó lan nhanh làm thối trái. Bệnh lây lan nhờ nước mưa.

Phòng trị bệnh :bằng cách cắt bỏ và tiêu huỷ các bộ phận bị bệnh để giảm nguồn lây lan. Phun Copper- Zine, Copper-B, Zineb hay Benomyl.

4. Bệnh đốm lá (Nấm Pestalotia mangiferae)

Tấn công cả lá và trái qua vết thương hay vùng tiếp xúc. Trên lá, đốm bệnh có hình bầu dục to, màu nâu nhạt, tâm sáng trắng có thể làm rách lá. Trên trái, bệnh làm thành vùng nhiễm có màu nâu đen, vùng nhiễm bệnh nhăn nheo. Bệnh thường gây hai nhẹ, có thể phòng trị như ở bệnh cháy lá.

Ngoài ra trên cây xoài còn bị một số bệnh hại khác như: Bệnh bồ hóng, Bệnh phấn trắng, bệnh đốm vi khuẩn và bệnh da ếch…

Theo tài liệu: KỸ THUẬT TRỒNG XOÀI của ThS. Nguyễn Phước Tuyên và KS. Võ Hùng Nhiệm – Nhà xuất bản nông nghiệp.

 

lan ho diep

Cách chăm sóc chậu hoa phong lan sau khi mua về

lan ho diep

 

Khi chúng ta mua chậu phong lan về chơi hoặc được ai đó biếu tặng, sau khi hoa tàn thì thời gian sau cây cũng suy yếu dần, lá rụng, thân khô và từ đó về sau cây không ra hoa nữa, nếu có thì hoa cũng rất kém: hoa ít, hoa nhỏ và màu sắc nhợt nhạt. Nguyên nhân ở đây là do chúng ta không chăm sóc hoa lan đúng cách.  Sau đây là một số kinh nghiệm và bíquyết để khắc phục vấn đề trên:

Cây phong lan mới mua về đặt vào nơi thích hợp ngay. Để cây vào chỗ thoáng mát. Thường phải treo vào vườn lan có mái che phù hợp với yêu cầu cường độ ánh sáng của từng loại lan (vấn đề này tôi sẽ trình bày kỹ ở phần cuối bài). Không nên treo lẻ lôi trước mái hiên nhà hoặc ở nơi ánh sáng trực xạ sẽ làm cây bị cháy lá và hạn chế quá trình quang tổng hợp của phong lan.

Không nên thay đổi vị trí cây một cách liên tục, cây sẽ không thích nghi kịp hướng sáng, ẩm độ…  Hoa sẽ dễ bị rụng.

Tưới phân NPK 20-20-20 xen kẽ với 10-30-30 trong suốt thời kỳ cây mang hoa. Tỷ lệ phân đa lượng này sẽ giúp hoa lâu tàn, giữ màu sắc đậm đà, rực rỡ. Loại phân trên thị trường rất đa dạng, thường phân NPK sẽ được phối trộn thêm các chất vi lượng cần thiết. Các bạn có thể hỏi mua tỉ lệ NPK này ngoài các cửa hàng phân bón cây trồng. Nhờ tư vấn nồng độ, khoảng cách thời gian giữa các lần tưới cho phù hợp với loại phân đã lựa chọn.

Đừng để cành hoa quá lâu trên cây. Khi thấy cành hoa còn lắc đắc vài bông ở ngọn đã tàn thì ta nên cắt bỏ để dưỡng cây.

Sau khi cắt bỏ cành hoa là thời kỳ chắm bón, phục hồi sức sống cho cây phong lan. Chế độ nắng vừa phải, tưới phân hóa học NPK 20-20-20. Thời kỳ này nên bổ sung thêm các loiaj phân hữu cơ khác như phân cá, bánh dầu, phân chiết xuất từ  phế thải động thực vật.

Sau thời kỳ dưỡng cây (thường là từ 3 đến 4 tháng) cây tươi tốt, khỏe mạnh là lúc chúng ta có thể xử lý cho cây ra hoa trở lại. Khi giả hành mới (tức nhánh phong lan con mới nảy ra từ gốc cây mẹ) cao bằng ½ giả hành trước ta áp dụng chế độ phân bón NPK với tỷ lệ 6-30-30 hoạc 10-52-17 cho đến khi cây ra hoa.

Thời kỳ kích hoa phải để nắng nhiều hơn trước khoảng 10- 20%

Khi thấy cành hoa mới xuất hiện ta trở về chế độ phân NPK 20-20-20 xen kẽ với chế độ 10-30-30 cho đến lúc cành nở bông hoa đầu tiên. Lúc này có thể dùng thuốc hóa học Lannat liều lượng 25g/lit để xịt ngừa ruồi đực búp hoa.

Sau đó chúng ta dùng chế độ phân bón 10-30-30, chăm sóc tương tự như lúc chúng ta mới mua chậu phong lan về như đã trình bày lúc đầu.

Không nên dùng hormon kích thích ra hoa như auxin, Giberelin… Vì nếu không  am tường vì kiến thức sinh học và sinh lý cây hoa phong lan, chẳng những không kích thích ra hoa được như ý muốn mà còn làm tổn hại đến sức sống của cây phong lan.

Chế độ nắng cho các loại hoa lan:

  • Mokara, aranda, renanthera :……………………………70-80% ánh sáng trực tiếp.
  • Dendrobium:…………………………………………………….60- 70% ánh sáng trực tiếp.
  • Cattleya, Vanda lá rộng…………………………………….50- 60% ánh sáng trực tiếp.
  • Oncidium ( vũ nữ)……………………………………………..40- 50% ánh sáng trực tiếp.
  • Phalaenopsis (Hồ điệp)………………………………………30% ánh sáng trực tiếp.

Ngoài ra cây phong lan là loài hoa của thiên nhiên hoang giã, cần yêu cầu môi trường sống rất đặc biệt, khi mang phong lan vào môi trường sống của con người, môi trường không tối ưu cho phong lan vì vậy để cây luôn xanh tốt, ngoài chế độ chăm sóc còn phải xịt thuốc phòng trừ sâu bệnh hại cho lan. Sau đây là một số thuốc thường dùng và hiệu quả:

  • Bệnh do nắm có thể dùng Benomeyl, Captan, Aliette…
  • Bệnh do vi khuẩn dùng: Kasimin, Physan 20, Nacossan…
  • Do côn trùng, rệp: lannate, Supracide, Mipcin…
  • Do nhện đổ dùng Kelthane là tốt nhất.
  • Do ốc sên gây hại dùng thuốc có Methaldehyde…

Thường thì để phòng ngừa cho cây không bị nhiễm bệnh. 7- 10 ngày/lần vào mùa mưa và 15-20 ngày/lần vào mùa nắng.

Đó là một số kinh nghiệm để chăm sóc chậu hoa phong lan sau khi mua về cho những bạn nào yêu thích và quan tâm loài hoa lan. Chúc mọi người sẽ có một chậu lan xanh tốt và có những đợt hoa sau với kết quả như mong muốn.

Nguồn: Phạm Công Bình.

hoa cuc

Bệnh thường gặp trên cây hoa cúc

 * Bệnh đốm đen (Black spot)

hoa cuc

Đặc điểm: Lúc đầu trên bề mặt lá xuất hiện những chấm nâu đen, sau chuyển thành màu đen, từ mép lá lan vào trong phiến lá. Vết có hình tròn, hình bán nguyệt hoặc hình bất định không đều. Cây bị bệnh làm lá rụng dần. Các chồi non cũng bị lây bệnh.

Nguyên nhân: Do nấm Curvularia, thuộc loài nấm bất toàn gây nên. Nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển từ 22-26oC, ẩm độ >85% Nấm tồn tại trong đất và lan truyền qua các hoạt động khác của con người.

Phòng trừ: Làm vệ sinh xung quanh vườn, tránh đọng nước lại trên lá. Nên tưới nước vào buổi sáng. Năng vặt bỏ lá già, lá bị bệnh. Dùng các loại thuốc hóa học sau:

Anvil 2 SC nồng độ 0,05-0,1%

Topsin nồng độ 0,05-0,1%

Maneb BTN nồng độ 0,1-0,3%.


Đặc điểm: Mặt trên lá xuất hiện những chấm nhỏ, nổi màu vàng da cam hoặc màu gỉ sắt, về sau các vết này có màu vàng nâu, hơi đỏ. Bệnh hại mặt dưới lá, chồi non, cuống lá, đôi khi hại cả thân cây làm cho thân teo tóp lại. Nếu không chữa kịp thời bệnh lan rộng cả mặt lá, làm cho cây cháy lá, lá vàng, rụng sớm.

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Puccinia Chrysanthemi gây ra. Bào tử nấm lan truyền trong không khí, trên tàn dư gây bệnh còn sót lại, gặp điều kiện ẩm độ cao nhiệt độ thích hợp (18-21oC), bệnh phát triển mạnh.

Phòng trừ: Thu dọn tàn dư lá bệnh đem đốt. Làm vệ sinh vườn cây, tạo độ thông thoáng, bón phân cân đối cho cây cứng, khỏe mạnh. Phun thuốc phòng trừ bằng các loại:

Bavistin nồng độ 0,12-0,2%,

Zineb BTN nồng độ 0,1-0,3%,

Topsin-M 70NP nồng độ 0,05-0,1%.

* Bệnh phấn trắng

Đặc điểm: Vết bệnh xuất hiện trên lá non, trên những phần non của cây đang tăng trưởng, dạng bột màu trắng xám như bột phấn, hình bất định. Mặt dưới lá mô chuyển sang màu vàng nhạt. Bệnh này làm cho lá khô héo rụng sớm, nụ thối, hoa nhỏ không nở được, hoặc nở lệch về một bên.

Nguyên nhân: Do nấm Didium Chrysanthemi gây ra. Nấm này chỉ phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 15-25oC. Nếu nhiệt độ cao hơn 33oC, nấm sẽ chết sau 24 giờ.

Phòng trừ:

- Cắt hủy cành lá bị bệnh.

- Bón Kali để tăng sức chống chịu cho cây.

- Thay đổi thời điểm trồng cúc (để tránh thời điểm bệnh phát triển mạnh).

Dùng các loại thuốc:

- Kasuran 0,15%,

- Derosal 0,1-0,15%,

- Ridomil MZ 72WP nồng độ 0,3% phòng trừ rất hiệu quả.

* Bệnh đốm vòng

Đặc điểm: Vết bệnh thường xuất hiện từ mép lá, màu xám nâu, hoặc xám đen hình tròn, hoặc bất định, xung quanh vết bệnh có quầng vàng rộng. Sau đó, từ mép lá, chóp lá, vết bệnh lan vào phiến lá làm lá thối đen và rụng.

Nguyên nhân: Do nấm Alternara sp gây ra. Nấm này phát sinh mạnh ở độ ẩm >85% và nhiệt độ thích hợp từ 20-28oC.

Phòng trừ:

- Kịp thời phát hiện bệnh, vặt bỏ lá bị bệnh.

- Khơi nước, không để ruộng đọng nước, úng nước.

- Dùng các loại thuốc như: Topsin-M 70NP nồng độ 0,05-0,1%, Aliette 80NP nồng độ 0,25%.

* Bệnh lở cổ rễ

Đặc điểm: Phần cổ rễ sát mặt đất có vết bệnh màu xám nâu, lở loét, rễ bị thối mềm, thân lá tự nhiên bị héo dần và héo khô. Khi nhổ cây lên, thấy gốc dễ bị đứt, chỗ vết đứt, bị thối nham nhở.

Nguyên nhân:

Bệnh do nấm Rhizoetonia Solani gây ra

Phòng trừ: Đất trồng cúc phải tơi xốp, thoát nước. Hạn chế việc xới xáo làm đứt gốc, rễ tạo điều kiện cho nấm xâm nhập. Dùng các loại thuốc phòng trừ như:

- Fundazol 50WP nồng độ 0,2%

- Rovral 50WP nồng độ 0,15%.

* Bệnh héo xanh vi khuẩn

Đặc điểm: Đây là bệnh hại cúc rất phổ biến ở vùng nhiệt đới ẩm. Nó tồn tại lâu trong đất, lan truyền theo nước tưới xâm nhập vào cây qua các vết thương và di chuyển vào trong bó mạch. Bệnh thường xảy ra vào lúc cây đang tăng trưởng đến xuất hiện nụ, làm lá non bị héo trước vào buổi trưa, nắng. Khi điều kiện khí hậu thuận lợi, triệu chứng héo cả cây diễn ra rất nhanh sau 1-2 ngày và cây héo hoàn toàn khi lá cây vẫn còn xanh. Nếu bệnh diễn biến chậm, rễ bất định xuất hiện nhiều trên thân. Chẻ dọc thân thấy mô mạch phần thân dưới và rễ hóa nâu. Cắt ngang thân, rễ cây bị bệnh nhúng vào nước sẽ thấy dòng vi khuẩn trắng đục trào ra từ mạch dẫn có dạng dịch nhầy.

Nguyên nhân: Bệnh do loại vi khuẩn Pseudomonas Solanacearum gây ra.

Phòng trừ: Với loại bệnh này, hiện nay chưa có thuốc hóa học phòng trị đặc hiệu. Chỉ có thể dùng các biện pháp hạn chế: làm thủy lợi tốt, bón nhiều phân hữu cơ, tủ đất cho cây và tránh làm rễ bị tổn thương khi chăm sóc cây. Nhổ bỏ ngay cây bị bệnh, diệt trừ cỏ dại và phòng trừ môi giới truyền bệnh như rệp, bọ rầy. Chọn cây giống sạch bệnh, tránh sát thương cơ giới. Một loại thuốc kháng sinh có thể làm hạn chế sự phát sinh, phát triển của bệnh này là Streptomixin phun ở nồng độ 100-150ppm.

Nguồn: Công nghệ mới trồng hoa cho thu nhập cao: Cây hoa cúc, NXB Lao động – Xã hội

cây trồng cũng cần bác sĩ giỏi!